Tài liệu phần quang học, các bạn có thể tải về theo đường link này https://www.mediafire.com/folder/cfrysspvvee8t/BG_Tuan
                           SẮN (Khoai Mì)
              

      
I.Đại cương:
    
Sắn là rễ biến thành củ của cây sắn Manihot thuộc họ Euphorbiacae.
      Sắn có 2 loại:
-          Manihot aipi Pohl ít gây ngộ độc (sắn ngọt)
-          Manihot utilissima hay gây ngộ độc ( sắn đắng)

 II. Độc tính:
  
Trong vỏ sắn có một heteroizit bị phân hủy trong nước thành acid cyanhydric, aceton, glucose, độc tính của sắn chủ yếu là acid cyanhydric, chất độc có nhiều ở vỏ sắn, đầu sắn và ruột sắn, để tránh bị ngộ độc người ta bóc vỏ ngâm trong nước trước khi luộc.

III. Triệu chứng của nhiễm độc:
   
1. Rối loạn tiêu hóa:
 Đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy.
 
2. Rối loạn thần kinh:
Chóng mặt, nhức đầu, nặng hơn có thể co giật, co cứng, hôn mê, tử vong

3. Rối loạn hô hấp:
Tình trạng ngạt thở xanh tím, suy hô hấp gây tử vong nhanh.

IV. Xử trí:
  1. Gây nôn bằng Apomorphin 0.005g tiêm dưới da hay rửa dạ dày bằng dd Kali permanganate 2%
  2. Đặt nội khí quản cho thở máy, tăng thải trừ nhanh chất độc qua đường hô hấp
  3. Tiêm tĩnh mạch các chất gây Methehomoglobin máu, Methehomoglobin kết hợp với cyanhydric thành cytochromoxydase ít độc hại hơn, dùng:
-          Xanh Methylen 1% 10-30ml hay
-          Natri nitrit 3% 5-10ml
   Cho đến khi bệnh nhân hết xanh tím
     4.Vitamin B12 1000 gamma 10-20 ống tiêm tĩnh mach chậm, vitamin B12 sẽ kết hợp acid cyanhydric thành cyancobalamin chất này ít độc.

   5.Dùng Natri hyposulfite dd 25%, 20ml tiêm tĩnh mạnh nhiều lần vì kết hợp với acid cyanhydric thành acid sulfocyanhydric ít độc hơn
                                               
                 Nguồn từ sách “Hồi sức cấp cứu toàn tập” của Gs. Vũ Văn Đính và cộng sự xuất bản 2012 nhà xuất bản Y học.
                                                                          






TRÚC ĐÀO- BÍ ẨN ĐẰNG SAU VẺ ĐẸP

Trúc đào (danh pháp hai phần: Nerium oleander), là một loài cây bụi hay cây gỗ nhỏ, thường xanh trong họ La bố ma (Apocynaceae). Nó là loài duy nhất hiện tại được phân loại trong chi Nerium.
v Đặc điểm nhận dạng:
Cây cao tới 2–6 m, với các cành mọc gần như thẳng. Các lá mọc thành cặp hay trong các vòng xoắn gồm ba lá, các lá dày và bóng như da, màu lục sẫm, hình mũi mác hẹp, dài khoảng 5–21 cm và rộng 1-3,5 cm, các mép lá nhẵn. Hoa mọc thành cụm ở đầu mỗi cành; màu trắng, vàng hay hồng (tùy theo giống), đường kính 2,5–5 cm, tràng hoa 5 thùy với tua bao quanh ống tràng trung tâm của tràng hoa. Thông thường (nhưng không phải luôn luôn) thì hoa trúc đào có hương thơm. Quả là loại quả nang dài nhưng hẹp, kích thước dài 5–23 cm, nứt ra khi chín để giải phóng các hạt nhỏ phủ đầy lông tơ.
v Độc tính:
Trúc đào là một trong những loài thực vật có độc tính cao nhất và chứa nhiều hợp chất có độc, nhiều hợp chất trong số này có thể gây tử vong ở người, đặc biệt là trẻ em. Độc tính của trúc đào được coi là cực kỳ cao và đã có nhiều thông báo cho thấy trong một số trường hợp chỉ cần một lượng nhỏ cũng đã đủ gây hậu quả tử vong hay cận kề tử vong. Đáng kể nhất trong số các chất độc này là oleandrinneriantin, đều là các glicosid tim mạch. Chúng có mặt trong toàn bộ các bộ phận của loài cây này, nhưng chủ yếu tập trung trong nhựa cây. Người ta cũng cho rằng trúc đào còn có thể chứa nhiều hợp chất chưa rõ hay chưa được nghiên cứu khác và chúng có các tác động còn nguy hiểm hơn

    oleandrin

neriantin
          Vỏ cây trúc đào chứa rosagenin, có các tác động tương tự như strychnin. Toàn bộ cây này, bao gồm cả nhựa cây màu trắng sữa là rất độc và bất kỳ bộ phận nào đều có thể gây ra các phản ứng có hại cho sức khỏe. Người ta cho rằng chỉ cần ăn phải từ 10-20 lá trúc đào thì một người lớn cũng có thể bị nguy hiểm đến tính mạng và chỉ cần 1 chiếc lá cũng có thể gây tử vong ở trẻ em.
Ngoài ra, trúc đào còn lưu giữ các chất độc ngay cả khi đã khô đi. Các bộ phận khô của loài cây này vẫn là rất nguy hiểm cho các động vật như cừu, ngựa, bò và các động vật gặm cỏ khác, với chỉ 100 g lá khô cũng đủ giết chết cả một con ngựa trưởng thành
v Các triệu chứng ngộ độc:
Ăn phải trúc đào có thể gây ra các triệu chứng đối với cả đường ruột và tim mạch. Các triệu chứng đường tiêu hóa có thể bao gồm buồn nôn và nôn mửa, tiết nhiều nước bọt, các tổn thương vùng bụng, tiêu chảy có thể lẫn hay không lẫn máu, và đặc biệt ở ngựa là đau bụng
Các tác động do ngộ độc loài cây này cũng có thể tác động tới hệ thần kinh trung ương. Các triệu chứng này có thể bao gồm thờ thẫn, run rẩy chân tay và các cơ, tai biến ngập máu, xẹp và thậm chí là hôn mê và có thể dẫn tới tử vong
Nhựa trúc đào có thể gây tấy rát da, sưng, tấy rát mắt nghiêm trọng và các phản ứng dị ứng đặc trưng của viêm da
Một số hình ảnh về loài cây trúc đào: