Tác
giả: Sưu tầm
Nguồn: Nhipcausuckhoe.com.vn
C
|
ây Nhàu có tên khoa học Morinda citrifolia, thuộc họ cà
phê. Ở nước ta, Nhàu mọc nhiều ở những vùng ẩm thấp dọc theo bờ sông, suối,
ao hồ hoặc mương rạch khắp các tỉnh miền Nam và một số tỉnh miền Trung.
Cây nhàu cao chừng 4 – 7m, thân nhẵn, có
nhiều cành to, lá mọc đối hình bầu dục, nhọn ở đầu, dài 12 – 15 cm. Hoa nở vào
tháng 1 – 2, quả chín vào tháng 7 – 8. Quả hình trứng có da sần sùi, dài chừng
5 – 6 cm, khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu mỡ gà, mùi nồng và cay. Ruột
quả có một lớp cơm mềm ăn được, chính giữa có một nhân cứng. Bộ phận dùng làm
thuốc gồm: Quả, rễ, lá, hạt cây nhàu. Rễ Nhàu bào ra có màu vàng sậm như màu
nghệ, cây nhàu bào ra có màu vàng lợt hơn.
Có 150 chất được tìm thấy trong quả nhàu, trong đó có: Sắt, Canxi, Kẽm,
Đồng, Vitamin A, Vitamin C, Vitamin E, Vitamin B1,Vitamin B6, Vitamin B12, Axít
Folic, Magie, Phốt pho và nhiều khoáng chất… Ngoài những chất này, quả
nhàu đặc biệt có chứa hợp chất prexonine. Hợp chất này khi kết hợp với
enzym prexoronase (có trong dạ dày) sẽ tạo thành chất xeronine. Khi
protein kết hợp với xeronine tạo thành những khối có khả năng sản xuất năng lượng
và giúp những tế bào khỏe mạnh phát triển hoàn hảo
Theo đông y, quả nhàu có tác dụng nhuận tràng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thũng, đau gân, đái đường, chữa lỵ, hỗ trợ hệ miễn dịch, chống viêm; rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh, giảm đau nhức, hạ huyết áp, nhuận tràng và lợi tiểu; lá nhàu có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt (giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non hoặc sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ); vỏ cây nhàu dùng nấu nước cho phụ nữ sau khi sanh uống bổ máu.Theo nghiên cứu của y học hiện đại, quả Nhàu có chứa prosertonin nhiều gấp 40 lần so với quả Dứa. Khi chất này kết hợp với một enzym nội bào sinh ra xeronin có khả năng giúp tế bào tự sửa chữa và tái tạo.
Theo đông y, quả nhàu có tác dụng nhuận tràng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thũng, đau gân, đái đường, chữa lỵ, hỗ trợ hệ miễn dịch, chống viêm; rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh, giảm đau nhức, hạ huyết áp, nhuận tràng và lợi tiểu; lá nhàu có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt (giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non hoặc sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ); vỏ cây nhàu dùng nấu nước cho phụ nữ sau khi sanh uống bổ máu.Theo nghiên cứu của y học hiện đại, quả Nhàu có chứa prosertonin nhiều gấp 40 lần so với quả Dứa. Khi chất này kết hợp với một enzym nội bào sinh ra xeronin có khả năng giúp tế bào tự sửa chữa và tái tạo.
Giáo sư Caujolle – Giám đốc Trung
tâm khảo cứu Quốc gia Pháp về độc tính của các chất, Giáo sư Youngken thuộc trường
địa học Dược khoa Massachusette và Giáo sư Ikeda thuộc trung tâm nghiên cứu vệ
sinh Quốc gia Nhật Bản… đã thí nghiệm trên vật nuôi và nhận thấy tinh chất rễ
Nhàu (Extrait des raciness de Morinda Citrifolia) có tác dụng nhuận trường nhẹ
và lợi tiểu nhẹ, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp kéo dài, ít gây độc và không
gây nghiện Sách “Gia y trị nghiệm” của
lương y Việt Cúc có ghi “rễ Nhàu vị đắng, ấm, thông huyết mạch, trừ phong tê nhức
mỏi, hạ huyết áp”. Trên thực tế, khi dùng độc vị hoặc phối hợp với một số vị
thuốc khác, rễ Nhàu có hai tác dụng đáng lưu ý là dưỡng tâm an thần và thông
kinh hoạt huyết.
Những người thường hay căng thẳng
tâm lý, dễ bực bội, cáu gắt, khó ngủ, khi dùng rễ Nhàu có thể cảm thấy tinh thần
được êm dịu, thư giãn dễ ngủ. Ngược lại, một số bệnh nhân bình thường hay lo sợ
vu vơ, buồn bực, than vãn thì sắc rễ Nhàu uống, có thể làm cho họ cảm thấy tươi
tỉnh lạc quan hơn.
Tác dụng tự điều chỉnh giữa hưng
phấn và ức chế, giữa thần kinh giao cảm và đối giao cảm cũng đã được nhóm
nghiên cứu của bác sĩ Đặng Văn Hồ ghi nhận: "Dựa theo sự quan sát trực tiếp
trên người bệnh, chúng tôi nhận thấy thuốc ấy (nước sắc rễ Nhàu) tạo nên một sự
thoải mái rất đặc biệt, niềm vui, sự lạc quan, sự minh mẫn trong suy luận và cải
thiện tính tình người bệnh. Tính chất điều hòa thần kinh còn thể hiện ở hiệu quả
của việc điều hòa huyết áp, thuốc sẽ làm hạ huyết áp ở những người huyết áp cao
hoặc nâng huyết áp ở những người huyết áp thấp. Trong một số trường hợp sức khỏe
kém vì huyết áp thường xuyên quá thấp, chúng tôi cũng cho bệnh nhân dùng thuốc
rễ Nhàu và chỉ thuốc ấy thôi đã gia tăng huyết áp của họ lên 2 hoặc 3 chỉ số".
Các dẫn chất anthraquinon (
damnacathal, nordamnacathal…) là một trong những hoạt chất chính của cây Nhàu,
có tỷ lệ cao trong rễ nhàu. Năm 1994, TS. Phạm Huy Quyết nghiên cứu tác dụng
kích thích miễn dịch chiết toàn phần rễ cây Nhàu có tác dụng hạ huyết áp, giảm
đau, an thần.
Ngoài tác dụng ổn định huyết áp qua
cơ chế thần kinh, tác dụng thông kinh hoạt huyết cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc
cải thiện tuần hoàn huyết mạch nên rễ Nhàu vẫn đang là vị thuốc Nam thông dụng,
được dùng phối hợp với những vị thuốc khác để chữa trị các chứng cao huyết áp
do bất kỳ nguyên nhân nào.
Sau
đây là tác dụng của cây nhàu:
* Loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng
vitamin, thảo dược và khoáng chất. Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn
sự hủy hoại những gốc tự do.
* Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau
lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu.
* Chữa nhức đầu kinh niên, đau nửa đầu: Rễ nhàu 24g, hạt muồng
trâu 12g, cối xay 12g, rau má 12g, củ gấu (sao, tẩm) 8g. Đổ nửa lít nước, sắc
còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng.
*Chữa đau lưng, nhức mỏi, tê bại: Rễ nhàu chặt nhỏ phơi khô,
sao vàng (chừng 1/2 kg), ngâm với 2 lít rượu 450 trong vòng nửa tháng, trước bữa
ăn uống một ly nhỏ.
* Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T - tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại.
* Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T - tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại.
* Chống viêm: Có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên
quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay. Giảm đau
và giảm sưng vết thương với triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng. Hiệu
quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.


01:59
Unknown

Posted in